ĐÂY CHỈ LÀ TRANG BLOG CÁ NHÂN,KHÔNG ĐẠI DIỆN CHO TÔN GIÁO HAY ĐOÀN THỂ NÀO.CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ VÀO XEM
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI ĐỌC HAY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI ĐỌC HAY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

15 CĂN BỆNH TRẦM KHA NƠI " GIÁO SĨ "

Sáng hôm qua 22.12 tại Hội trường Clementê ở Vatican, Đức Thánh Cha đã có cuộc gặp gỡ thường niên với giáo triều Rôma để ôn lại hoạt động trong năm qua cũng như gởi lời chúc mừng Giáng sinh đến các thành viên trong Giáo triều gồm các Giám mục và linh mục phụ trách cho các Thánh bộ, Văn phòng, tòa án… ĐTC nói: “Dịp này là cơ hội để chúng ta cùng suy nghĩ về hoạt động của Giáo Triều Rôma như một mô hình thu nhỏ của Giáo Hội. Giáo triều như một cơ thể mà  chúng ta cùng nhau nghiêm túc kiểm điểm mỗi ngày, nhờ vậy cơ  thể được sống động hơn, khỏe mạnh hơn, hài hòa hơn và đoàn kết hơn với Thân Mình của Chúa Kitô”.
“Tự thân Giáo triều luôn đòi buộc mình phát triển trong sự hiệp nhất, thánh thiện, khôn ngoan để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, như bất kỳ cơ thể nào, nó cũng mang những chứng bệnh, rủi ro và thương tật. … Tôi muốn đề cập đến một số chứng bệnh mà chúng ta gặp phải thường xuyên nhất trong đời sống Giáo Triều. Đó là những căn bệnh và những cám dỗ làm suy yếu việc phục vụ của chúng ta cho Thiên Chúa. Hôm nay tất cả chúng ta được mời gọi hiện diện nơi đây để kiểm điểm lương tâm mình hầu xứng đáng mừng lễ Giáng Sinh”. Sau đây là 15 căn bệnh mà ĐTC đã liệt kê ra:
1. Bệnh tưởng mình là “bất diệt”, “miễn nhiễm” hay “rất cần thiết”. Chính ảo tưởng như vậy làm và lơ việc kiểm điểm mỗi ngày. Một giáo triều không biết kiểm điểm, không canh tân, không tìm cách cải tiến, thì đó là một cơ thể đau yếu. Khi viếng nghĩa trang giúp chúng ta nhìn thấy tên của những người mà chúng ta từng nghĩ họ là ‘bất tử’, ‘miễn nhiễm’, và ‘không ai có thể thế được’! Đó là bệnh của người giàu có trong Tin Mừng nghĩ rằng mình sống mãi (x.Lc 12,13-21) và cả những người trở thành chủ nhân ông, cho rằng mình hơn người khác, chứ không biết mình được gọi là để phục vụ tất cả mọi người. Bệnh này thường phát sinh từ việc ham mê quyền bính, từ chủ thuyết narcissism, tự yêu mình mình, say mê hình ảnh của mình mà không nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi khuôn mặt của những người khác, đặc biệt là những người yếu đuối và túng thiếu nhất. Thuốc chữa bệnh dịch này là ơn thánh, ơn cảm thấy mình là người tội lỗi và thành tâm nói rằng: ”Chúng tôi chỉ là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi chỉ làm những gì chúng tôi phải làm” (Lc 17,10).
2. Bệnh của thuyết “Marthaism” (theo câu chuyện của bà Martha) quá bận tâm đến công việc: Đây là những con người chìm đắm trong công việc, và lơ là với phần tốt hơn, là ngồi bên chân để nghe Chúa Giêsu (x.Lc 10,38). Vì thế Chúa Giêsu trong Tin Mừng đã kêu gọi các môn đệ ”các con hãy nghỉ ngơi đôi chút” (x. Mc 6,31), vì lơ là việc cần thiết nghỉ ngơi sẽ dẫn tới tình trạng căng thẳng và giao động. Thời gian nghỉ ngơi, cho những gánh vác trách nhiệm là điều cần thiết phải làm, và cần phải sống thanh thản: dành thời gian cho những người thân và tôn trọng các kỳ nghỉ là thời điểm bồi bổ tinh thần và thể xác; cần học điều mà sách Qohelet đã nói trong sách Giảng Viên: ”Mọi việc điều có thời” (x. Gv 3,1-15).
3. Bệnh ”chai cứng” tâm trí và tinh thần: là những người có tâm hồn chai đá, “cứng đầu cứng cổ” (Cv 7,51-6); bệnh của những người đánh mất sự thanh thản nội tâm, mất sức sinh động và sáng tạo, để rồi bị các giấy tờ đè lên, khiến họ nên như “chiếc máy hồ sơ di động”, thủ tục và pháp lý chứ không còn là “người của Thiên Chúa” nữa (x. Dt 3,12). Nguy cơ này làm họ đánh mất sự nhạy cảm nhân bản cần thiết để khóc với những người khóc và vui với những người vui! Đó là bệnh của những người mất ”tâm tình của Chúa Giêsu” (x. Pl 2,5-11), vì vậy với thời gian, tâm hồn họ trở nên khô cằn và không còn biết yêu Chúa và tha nhân vô điều kiện nữa (x.Mt 22, 23-40). Là Kitô hữu có nghĩa là “có cùng những tâm tình như Chúa Giêsu Kitô, những tâm tình khiêm tốn, và hiến thân, không dính bén và quảng đại.”
4. Bệnh kế hoạch thái quá và duy hiệu năng. Lên kế hoạch tông đồ cách tỉ mỉ và sắp xếp thực hiện nó một cách chi tiết, vô tình chúng ta trở thành một kế toán viên hay một con buôn. Chuẩn bị mọi sự là điều tốt và cần thiết, nhưng đừng bao giờ để mình rơi vào cám dỗ làm hết mọi chuyện mà không để cho Chúa Thánh Thần tự do hoạt động. Chính Thánh Thần mới là Đấng lớn hơn chúng ta, quảng đại hơn mọi kế hoạch của con người (x.Ga 3,8). Người ta rơi vào căn bệnh này vì luôn thấy “dễ chịu và thoải mái hơn khi tự sắp xếp các kế hoạch và không muốn thay đổi quan điểm của mình. Thật vậy Giáo Hội thể hiện sự trung thành theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần khi Giáo Hội không áp đặt trên Thần Khí. Thánh Thần là làn gió mát, sáng tạo và mới mẻ!
5. Bệnh hợp tác kém. Khi các chi thể đánh mất sự hiệp thông với nhau thì thân thể cũng mất đi sự hài hòa và chừng mực của mình, nó biến thành một ban nhạc chỉ tạo ra những tiếng ồn ào, vì các nhạc công không còn ăn ý với nhau, không sống tinh thần hiệp thông và đồng đội. Khi chân nói với tay: “Tôi không cần anh”, hoặc tay nói với đầu: “Tôi điều khiển anh”, thì gây nên sự khó chịu và gương mù.
6. Bệnh Alzheimer’s -loại bệnh về não tác động đến trí nhớ- bệnh tinh thần: làm ta quên đi “lịch sử cứu độ”, lịch sử cá nhân mỗi người với Chúa, quên đi mối tình ban đầu (Kh 2,4). Tiến trình này làm suy thoái dần dần khả năng tinh thần trong khoảng thời gian dài hay ngắn, tạo nên tình trạng tật nguyền trầm trong cho con người, làm cho họ không còn khả năng tự quyết, sống trong tình trạng lệ thuộc vào những quan niệm thường do tưởng tượng. Chúng ta thấy điều đó nơi những người không còn nhớ cuộc gặp gỡ ban đầu của họ với Chúa, nơi những người không còn cảm thức trong cuộc sống, nơi những người chỉ bám vào “thời hiện tại”, với những đam mê của mình, nơi những người bốc đồng, và những người xây những bức tường và những tập quán bảo vệ mình, để trở nên nô lệ cho các thần tượng mà chính tay họ nắn nên.
7. Bệnh cạnh tranh và háo danh. Khi vẻ bề ngoài, màu áo và danh hiệu trở thành đối tượng ưu tiên của cuộc sống, họ quên đi lời thánh Phaolô: “Anh em đừng làm gì vì cạnh tranh hay háo danh, nhưng mỗi người với tất cả sự khiêm tốn, hãy coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm tư lợi, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,1-4). Đó là căn bệnh đưa chúng ta trở thành những con người giả dối và sống một thứ “thần bí” giả hiệu, một kiểu “tu kín” giả tạo. Chính thánh Phaolô đã định nghĩa họ là “những kẻ thù của Thập Giá Chúa Kitô” vì “kiêu hãnh về những điều mà lẽ ra họ phải hổ thẹn và chỉ họ nghĩ đến những điều thuộc về trần thế này” (Pl 3,19)
8. Bệnh tâm thần phân liệt trong cuộc sống. Đó là bệnh của những người sống hai mặt, hậu quả của lối sống giả hình và tầm thường, dần dần đưa đến trống rỗng tinh thần mà các văn bằng tiến sĩ hoặc bằng cấp khác không thể lấp đầy được. Một thứ bệnh thường xảy ra nơi những người bỏ việc mục vụ, và chỉ giới hạn vào những công việc bàn giấy, đánh mất sự va chạm thực tế, tiếp xúc với những con người cụ thể. Như thế họ tạo cho mình một thế giới hai mặt, ở đó họ dạy người ta, nhưng sống kiểu khác và thường là lối sống phóng đãng. Việc hoán cải là điều rất cần thiết và không thể thiếu được nơi căn bệnh trầm kha này (x. Lc 15,11-32).
9. Bệnh ‘ngồi lê đôi mách’, nói hành nói xấu. Tôi đã nói nhiều về bệnh này và không bao giờ cho đủ: Đó là một bệnh nặng, thường bắt đầu bằng những cuộc chuyện trò, và nó làm cho con người thành người “gieo rắc cỏ lùng“ (như Satan), và trong nhiều trường hợp, họ trở thành kẻ “giết người không vấy máu”, giết hại danh thơm tiếng tốt của linh mục đoàn và anh em cùng Dòng. Đó là bệnh của những kẻ hèn nhát không có can đảm nói thẳng, mà chỉ nói sau lưng. Thánh Phaolô đã cảnh báo: “Anh em hãy làm mọi sự mà đừng lẩm bẩm, không do dự, để không có gì đáng trách và tinh tuyền” (Pl 2,14-18). Hỡi anh em, hãy tỉnh táo tránh nói hành nói xấu!
10. Bệnh thần thánh hóa bề trên. Đó là bệnh của những kẻ a dua, xu nịnh Bề trên, hy vọng tìm chút ân huệ. Họ là kẻ tham lam, cơ hội, đi tôn vinh con người chứ không phải Thiên Chúa (x.Mt 23,8-12). Đó là những người khi phục vụ chỉ nghĩ đến điều có lợi cho mình, những kẻ bủn xỉn nhỏ nhặt, cau có, và chỉ hành động vì ích kỷ (x. Gl 5,16-25). Bệnh này có thể xảy ra cho cả Bề trên khi họ chiêu dụ vài cộng tác viên chịu phục tùng, trung thành, lệ thuộc nhưng hậu quả là một sự đồng lõa thực sự.
 11. Bệnh dửng dưng với người khác. Khi mỗi người chỉ nghĩ đến mình và đánh mất sự thành thực trong mối liên hệ chân thành với nhau. Khi người giỏi nhất không mang kiến thức của mình để phục vụ anh em yếu kém hơn. Khi người ta học được kiến thức gì đó và giữ riêng cho mình thay vì tích cực chia sẻ cho anh em. Họ là người hay ghen tương và tinh ranh, cảm thấy vui mừng khi thấy người anh em ngã xuống, thay vì nâng người anh em đứng lên và khích lệ họ!
12. Bệnh mang bộ mặt đưa đám. Tức là những người cộc cằn và hung dữ, để tỏ mình đạo mạo, họ cần một bộ mặt rầu rĩ, khắc khe khi xử sự với người khác, nhất là những người lớp dưới. Họ là người cứng nhắc, lỗ mãng và kiêu hãnh. Trong thực tế, sự nghiêm khắc chỉ để đóng kịch bên ngoài nhằm che đậy một tâm hồn bi quan, sợ hãi và bất an về mình. Trong khi đó công tác tông đồ đòi buộc phải là người nhã nhặn, thanh thản, nhiệt thành và vui tươi, mang niền niềm vui đến nơi mình phục vụ. Một con tim đầy tràn Thiên Chúa là một con tim hạnh phúc, chiếu tỏa và làm lan rộng niềm vui cho tất cả những người quanh mình, người ta sẽ nhận thấy ngay điều đó. Chúng ta đừng đánh mất tinh thần vui tươi, tinh thần hài hước, và phải viết tự phê chính mình, nhờ đó chúng ta là những người dễ mến ngay trong những hoàn cảnh khó khăn. Một chút tinh thần hài hước thật là điều tốt biết bao! Nó giúp ích cho chúng ta dường nào. Hãy ghi nhớ câu nói của Thánh Thomas More: tôi cầu nguyện hằng ngày và nó mang lại lợi ích cho tôi.
13. Bệnh vun quén. Làm việc tông đồ nhưng tìm cách lấp đầy khoảng trống trong con tim bằng cách vun quén của cải vật chất, không phải vì cần thiết nhưng chỉ vì để cảm thấy an toàn. Trong thực tế của cải không thể mang theo mình vì “khăn liệm không có túi” và mọi kho tàng vật chất của chúng ta- cả những tặng phẩm- không bao giờ có thể lấp đầy khoảng trống, trái lại nó càng làm cho ta ra nặng nề hơn. Với những người ấy, Chúa lặp lại: “Ngươi bảo: nay tôi giầu có, đã đầy đủ của cải rồi, tôi chẳng cần gì nữa. Nhưng ngươi không biết mình là kẻ bất hạnh, khốn nạn, một kẻ nghèo, mù lòa và trần trụi… Vậy ngươi hãy nhiệt thành và hoán cải” (Kh 3,17-19). Việc vun quén của cải chỉ làm cho ra nặng nề và làm cho hành trình trở nên chậm chạp hơn! Và tôi nghĩ đến một giai thoại: có lần các tu sĩ dòng Tên Tây Ban Nha mô tả dòng như một đoàn “kỵ binh thanh thản của Giáo Hội”. Tôi nhớ việc dọn nhà của một tu sĩ dòng Tên còn trẻ tuổi, trong khi chất lên xe vận tải bao nhiêu đồ đạc: hành lý, sách vở, vật dụng, quà tặng, thì một tu sĩ dòng Tên cao niên quan sát và mỉm cười nói: đây có phải là kỵ binh thanh thản của Giáo Hội không?”. Những cuộc dọn nhà của chúng ta chỉ cho thấy căn bệnh này.
14. Bệnh khép kín. Việc lôi kéo, quy tụ lập nhóm để thuộc về nhau coi là quan trọng hơn cả thuộc về Thân Mình Chúa Kitô. Căn bệnh này khởi đi từ những ý hướng tốt, nhưng với thời gian nó trở nên xấu, thành thư “ung nhọt”, đe dọa sự hài hòa nơi Thân Mình Chúa Kitô và gây nên bao gương mù,  nhất là cho những anh em mới đi vào đời tu. Bè nhóm chính là mối nguy hiểm nhất. Đó là sự ác đánh từ bên trong, và như Chúa Kitô đã nói, “nước nào chia rẽ bên trong thì nó sẽ tự tàn lụi” (Lc 11,17).
15. Cuối cùng là bệnh tìm kiếm lợi lộc trần gian và tính phô trương. Khi công tác tông đồ biến việc phục vụ thành quyền lực, và biến quyền lực của mình nên như thứ hàng hóa để kiếm chác những lợi lộc trần gian và củng cố quyền hành. Đó là bệnh của những người tìm cách gia tăng vô độ quyền lực và để đạt được mục tiêu đó, họ vu khống, mạ lỵ và làm mất thanh danh người khác, thậm chí đưa lên cả lên mặt báo và tạp chí. Thường thì chính họ muốn biểu dương và chứng tỏ mình có khả năng hơn người khác. Căn bệnh này cũng gây hại rất nhiều cho Thân Mình, vì nó làm cho con người đi tới chỗ biện minh việc sử dụng bất kỳ phương tiện nào để đạt được mục đích, thường là nhân danh công lý và sự minh bạch. Và ở đây tôi nhớ đến một linh mục đã gọi các ký giả đến để kể cho họ (điều mà người linh mục này bịa đặt) về những chuyện riêng tư của những linh mục khác và của giáo dân. Vấn đề  là vị linh mục ấy chỉ muốn được xuất hiện trên trang nhất của báo chí, và như thế cảm thấy mình có “quyền hành và hấp dẫn”, nhưng tạo ra bao nhiêu đau khổ cho những người khác và cho Giáo Hội! Thật một là kẻ đáng thương!

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

THƯỢNG ĐẾ VÀ KHOA HỌC

Trong lớp học, vị giáo-sư Triết-học ngắt giọng "Hãy để tôi giải-thích vấn-đề của khoa-học đối với tôn-giáo", và ông yêu-cầu một học-sinh đứng lên.
- Em theo đạo Chúa ?
- Thưa Thầy, vâng.
- Em tin vào Thượng-đế ?
- Tất-nhiên.
- Thượng-đế có tốt không ?
- Chắc-chắn là tốt.
- Có phải là Ngài Toàn-năng ? Có thể làm được mọi việc ?
- Thưa vâng.
- Em là tốt hay xấu ?
- Kinh-thánh bảo là kẻ xấu.
Vị giáo-sư cố ý cười, suy-nghĩ chốc lát và bảo :"À ha ! Kinh-thánh ? Giả-sử ở đây có người bệnh và em có thễ chữa lành. Em có khả-năng. Em có giúp anh ta? Em có thử không ?
- Thưa Thầy, em sẽ thử.
- Vậy em là người tốt.
- Em không có ý nói thế.
- Tại sao lại không nói như thế ?. Nếu có thể, em sẽ giúp một người bệnh, tàn-tật. Hầu hết chúng ta sẽ làm nếu có thể, nhưng Thượng-đế thì không !
Cậu học-trò không trả-lời, và vị giáo-sư tiếp-tục. "Em trai tôi là tín-đồ đạo Chúa đã chết vì ung-thư mặc dầu đã từng cầu nguyện xin Chúa Jesus cứu chữa... Sao mà cho Chúa Jesus tốt được ? Em có thể trả-lời được không ?.
Cậu học-trò vẫn im-lặng.
Vị giáo-sư nói "em không thể trả-lời phải không ?". Ông cầm lấy ly trên bàn nhấp môt ngụm nước tạo thời-gian cho cậu học-sinh bớt căng thẳng. "Chúng ta bắt đầu trở lại. Thượng-đế có tốt hay không ?".
- Dạ ... tốt !
- Quỷ Satan có tốt không ?
Cậu học-trò không ngại-ngần : "Không".
- Vậy Satan đến từ đâu ?
Cậu học-trò ngập-ngừng : "Từ Thượng-đế" .
- Đúng thế. Thượng-đế tạo Satan. Em cho tôi biết có kẻ xấu ác trên thế-giới này không ?
- Dạ có .
- Kẻ xấu ác có khắp nơi. Và Thượng-đế tạo mọi thứ, có đúng không ?
- Dạ đúng.
Vị giáo-sư tiếp-tục :
- Vậy ai tạo ra kẻ xấu ác ?. Nếu Thượng-đế tạo ra mọi vật, thì Ngài tạo ra kẻ xấu ác. Do bởi xấu ác hiện-hữu, và theo nguyên-lý "hành-động định-danh con người", vậy Thượng-đế là kẻ xấu ác.
Cậu học-trò lại không trả-lời.
- Có phải bệnh-tật, vô đạo-đức, hận-thù và xấu xa hiện-hữu trên cõi đời này ?
Cậu học-trò đứng im lúng-túng "Thưa vâng".
- Vậy thì ai tạo ra chúng?
Cậu học-trò lại không trả-lời để vị giáo-sư lập lại câu-hỏi "Ai tạo ra chúng ?".
Vẫn không có câu trả-lời. Đột-nhiên vị thẩy bước đến trước lớp học. Cả lớp như bị mê-hoặc. Ông tiếp tục hỏi một học-sinh khác "Hãy nói cho tôi nghe !".
- Em có tin vào đức Chúa không ?.
- Vâng, Thưa Thầy, em tin.
Vị giáo-sư ngừng bước :
- Khoa-học bảo em có ngũ-giác-quan dùng để xác-định và quan-sát thế-giới xung quanh. Em đã thấy Chúa Jesus bao-giờ chưa
- Thưa Thầy, em chưa bao giờ thấy Ngài.
- Có bao-giờ em cảm-nhận được Chúa của em, nếm Chúa của em hay ngửi thấy Chúa của em ? Có bao giờ em có những cảm-giác nhận biết đức Chúa hay Thượng-đế ?
- Thưa Thầy, đáng tiếc là em không có.
- Em vẫn còn tin Chúa ?
- Thưa vâng.
- Theo quy-tắc những giao-thức thể-nghiệm, khả-nghiệm, và chứng-minh được, khoa-học bảo Thượng-đế không hiện-hữu... Em nói như thế-nào vể điều đó ?
- Không. Em chỉ có đức tin của em.
- Vâng. Đức tin. Và đó chính là vấn-đề khoa-học đã có đối với Thượng-đế. Không có bằng-chứng, chỉ có đức tin.
Cậu học-trò đứng lặng lẽ một lúc, trước khi hỏi : "Thưa Thầy, có cái gì là nhiệt không ?".
- Có.
- Và có cái gì là lạnh không ?
- Vâng, có cả lạnh nữa em à .
- Thưa Thầy, không phải vậy.
Vị giáo-sư quay nhìn vào mặt cậu học-trò tỏ vẽ thú-vị. Cả lớp đột-nhiên im lặng như tờ. Cậu học-trò bắt đầu giải-thích :
- Thầy có thể có rất nhiều nhiệt, thậm chí thêm nhiều nhiệt, siêu-nhiêt, vô-hạn-nhiệt, nhiệt trắng, môt chút nhiệt hay không nhiệt, nhưng chúng ta không có cái gì gọi là "lạnh". Ta có thể đạt xuống 458 độ dưới zero mà không có nhiệt, nhưng ta không thể xuống hơn thế nữa. Không có gì là "lạnh" hết; nếu không ta có thể đạt mức lạnh hơn độ thấp nhất là -458 độ. Mọi thể-vật có thể nghiên-cứu được khi chúng có hay truyền được năng-lượng. Ở độ zero tuyệt-đối (-458 F) hoàn-toàn vắng bóng nhiệt. Thưa Thầy, Thầy có thấy "lạnh" chỉ là chữ ta dùng để diễn tả sự "vắng bóng nhiệt". Ta không thể đo-lường "lạnh" Ta có thể đo lường nhiệt theo những đơn-vị nhiệt vì nhiệt là năng-lượng. "Lạnh" không phài là đối nghịch của nhiệt. Thưa Thầy, đó chỉ là vắng bóng nhiệt.
Cả lớp lặng im. Có cây bút rơi đâu đó, nghe như tiếng búa rơi.
- Thưa Thầy, còn "bóng tối" ? Có cái gì là bóng tối không ?
Vị giáo-sư đáp lại không do dự :
- Có. Đêm là gì nếu đó không là bóng tối ?
- Thầy lại sai lầm. Bóng tối không là một cái gì cả ; chỉ là sự vắng mặt một cái gì đó. Thầy có thể có ánh-sáng yếu, bình-thường, ánh-sáng mạnh, ánh sáng nháy, nhưng nếu ánh sáng không liên-tục, Thầy chẳng có gì hết và phải chăng đó được gọi là bóng tối ? Và nếu thế, Thầy có thể làm bóng tối tối hơn, Thầy có thể làm được vậy hay không ?
Vị giáo-sư bắt đầu nở nụ cười với cậu học trò trước mặt. Đây hẳn sẽ là một học kỳ tốt đẹp. :
- Người bạn trẻ, em muốn nói đến điều gì ?
- Vâng thưa Thầy. Điều em muốn nói là tiền-đề triết-học Thầy khởi xuất là sai lầm, và kết-luận của Thầy cũng thiếu sót.
Lần này, nét mặt của vị giáo-sư không che giấu được sự ngạc-nhiên :
- Sai lầm ? Em có thể giải-thích được không ?
Câu học-trò giải thích :
- Thầy đang tạo một tiền-đề có hai mặt. Thầy tranh luận rằng có sự sống và rồi có sự chết; một Thượng-đế tốt và môt Thượng-đế xấu. Thầy đang có khái-niệm về Thượng-đế như là một gì hữu-hạn, là môt gì ta có thể đo đạc. Thưa Thầy, thậm chí khoa-học không thể giải-thích một ý-nghĩ. Dùng điện và từ, nhưng chưa bao giờ thấy, không hoàn toàn hiểu được đầy đủ. Xem cái chết như là đối nghịch với sống là không hiểu gì hết, thực ra cái chết không thể hiện-hữu như môt tồn-tại độc lập. Chết không đối nghịch với sống, chỉ là vắng bóng sự sống.. Bây giờ Thầy cho em biết có phải Thầy dạy học trò rằng chúng "tiến-hóa" từ khỉ ?
- Người bạn trẻ ơi, nếu em đề cập đến quá-trình tiến-hóa thiên-nhiên, vâng, tất-nhiên tôi đã dạy như thế.
- Có bao giờ Thầy dùng đôi mắt quan-sát sự tiến-hóa ?
Vị giáo-sư bắt đầu lắc đầu, vẫn cười mỉm như nhận ra cuộc tranh-luận sẽ như thế nào. Thật là một học kỳ tốt đẹp.
- Do bởi không một ai quan-sát được quá-trình tiến-hóa và lại càng không minh-chứng được nó đang tiếp-diễn, sao Thầy không dạy những quan-điểm của Thầy ? Phải chăng giờ đây Thầy chẳng là một khoa-học gia, mà là một người thuyết-giáo ?
Cả lớp học náo động. Người học trò vẫn im-lặng cho đến khi sự ồn ào lắng xuống.
- Để tiếp nối vấn-đề Thầy đã đặt ra cho bạn kia, em xin đưa một thí-dụ để rõ ý của em
Người học trò nhìn quanh lớp :
- Có ai trong các bạn đã từng nhìn thấy bộ não của Thầy ?
Cả lớp bật vang tiếng cười.
- Có ai trong các bạn đã từng nghe bộ não của Thầy ? cảm nhận bộ não của Thầy, rờ mó và ngửi bộ não của Thầy ? Chẳng thấy có ai làm vậy cả. Vậy thì, theo quy-tắc những giao-thức thể-nghiệm, khả-nghiệm, và chứng-minh được, khoa-học bảo Thầy không có bộ não, thưa Thầy, em vẫn với một lòng tôn kính. Vậy thì, nếu khoa-học bảo Thầy không có bộ não, làm sao chúng em có thể tin vào các bài giảng của Thầy ?
Giờ thì cả lớp lặng yên. Vị giáo-sư chỉ nhìn chăm chăm học trò, khuôn mặt khó hiểu. Cuối cùng, tưởng chừng như vô-tận, vị Thầy già trả lời :
- Tôi đoán em sẽ phải đưa họ về lại với đức tin.
Cậu học-trò tiếp-tục :
- Bây giờ Thầy chấp nhận rằng có đức tin, và trên thực tế, đức-tin hiện-hữu với đời sống. Bây giờ, có cái gì là xấu ác không Thầy ?
- Tất nhiên có. Chúng ta thấy hàng ngày. Những thí dụ vô-nhân của người đối với đồng loại; vô số tội ác và bạo-lực xảy ra khắp nơi trên thế-giới. Những điều này biểu-hiện không gì khác hơn là điều xấu ác.
Cậu học-trò trả-lời :
- Thưa Thầy, sự ác không hiện-hữu, hoặc ít nhất nó cũng không tự nó hiện-hữu. Đơn-giản, sự ác là vắng bóng Thượng-đế. Cũng giống như bóng tối và lạnh, chỉ là ngôn từ con người đặt ra để diễn giãi sự vắng mặt của Thượng-đế. Thượng-đế không tạo ra sự ác. Sự ác chỉ là kết quả những gì khi con người không có tình-yêu của Thượng-đế trong con tim của họ. Giống như "lạnh" đến khi không có nhiệt hay bóng tối đến khi không có ánh sáng.
Vị giáo-sư ngồi xuống.
Bị chú : Cậu học-trò trong câu chuyện là Albert Einstein

Nếu bạn đọc một mạch đến hết và miệng mỉm nụ cười, bạn nên gửi cho gia-đình và bè bạn với tiêu-đề "Thượng-đế và Khoa-học"

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

HỌC LÀM NGƯỜI LÀ VIỆC HỌC SUỐT ĐỜI

Thứ nhất, “học nhận lỗi”.
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
Thứ hai, “học nhu hòa”.
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên. Cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.
Thứ ba, " học nhẫn nhục”.
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
Thứ tư, “học thấu hiểu”.
Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm.
Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
Thứ năm, “học buông bỏ”.
Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
Thứ sáu, “học cảm động”.
Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Thứ bảy, “học sinh tồn”.
Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
( nguồn Internet )

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

CHUYỆN VỀ ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICO VÀ BÁNH TRUNG THU CHO CÁC TÙ NHÂN

Ai chẳng biết Tết Trung Thu là một trong những ngày lễ tết đặc biệt của một số quốc gia ở Á Châu như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam… Tuy nhiên, năm nay, không khí của ngày Tết này đã lan đến Âu Châu và “vào tận phòng” của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
Số là Đức Hồng Y Giuse Trần Nhật Quân, Giám mục về hưu của Hồng Kông, từ 4 năm nay vẫn làm việc mục vụ chăm sóc tù nhân, những người cải huấn, cai nghiện và phục hồi chức năng ở Hồng Kông và thường mua bánh trung thu mỗi năm cho nơi Ngài tới thăm, đã có sáng kiến viết thư cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô để xin ngài trợ giúp: “Tôi đoán rằng Ngài cũng sẽ quan tâm đến việc tặng bánh trung thu cho các tù nhân ở đây.”
Đúng như ngài dự đoán, Ngài nhận được hồi âm vào ngày 7 tháng 8 cuả Đức Giáo Hoàng như sau:
“Thưa Đức Hồng Y quí mến, tôi sẵn sàng tham gia việc tặng bánh trung thu cho các anh chị em của chúng ta trong các nhà tù của Hồng Kông, Chúa Giêsu sẽ nhận ra chúng ta ở ngưỡng cửa Thiên Đàng. Chúc mừng Tết Trung Thu! Thân ái ban phép lành. Phanxicô.”
Được gợi hứng từ lòng bác ái của Đức Thánh Cha, vị giám mục khả kính của Giáo Hội Hồng Kông đã in nhiều tấm thiệp với lời hồi âm cuả Đức Giáo Hoàng (dịch ra Hán văn), gửi cho các tín hữu ở Hồng Kông và xin họ hãy noi gương Đức Thánh Cha.
Sau 2 tuần lễ, tiền quên góp ào ạt đổ về và đạt đến 1 con số trên cả mong đợi là 170.000 đô la Hồng Kông, tương đương 22.000 đô la Mỹ và 464.574.000 đồng VN, đủ để mua bánh cho mọi tù nhân.
Để tri ân vị ân nhân từ Vatican, Đức Hồng Y đã gửi thư cám ơn và lời chúc mừng Tết Trung Thu đến Đức Giáo Hoàng cũng như không quên gửi tặng Đức Giáo Hoàng một hộp bánh nhân hạt sen có 2 lòng đỏ trứng muối.
Đức Hồng Y cho biết khi ngài đến thăm các tù nhân vào cuối tháng 8, họ đã nhắc nhở ngài về chuyện những chiếc bánh Trung Thu. “Tôi chắc chắn rằng họ đã biết việc Đức Thánh Cha Phanxicô hỗ trợ sự kiện này, vì họ thường theo dõi tin tức trên các báo,” Đức Hồng Y Quân nói.
Nghĩa cử này của Đức Giáo Hoàng đã gợi hứng cho các giáo xứ và nhiều tổ chức đạo, đời quyên góp bánh Trung Thu để gửi tặng những người cao tuổi và người có thu nhập thấp.
Tết Trung Thu năm nay sẽ rất đặc biệt, vì nhờ vào nghĩa cử của Đức Giáo Hoàng và bao người thiện tâm khác, niềm vui của lễ hội này đang dần lan rộng tới tất cả mọi người.
Xin gửi lời chúc mừng Trung Thu đến tất cả mọi người, đặc biệt là các em thiếu nhi!

( Chỉnh Trần, S.J.)

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

NGÔI NHÀ THỜ 57 XU

Vào một ngày chủ nhật của năm 1884, một cô gái nhỏ đứng gần cửa ra vào của nhà thờ, nơi cô bị đẩy ra vì trong đó đã quá đông. “Con không vào lớp được”. Cô khóc thút thít với vị mục sư khi ông bước ngang qua.
Nhận thấy cô bé ăn mặc tiều tụy và không gọn gàng, vị mục su đoán được lý do. Ông nắm tay cô gái nhỏ, dẫn vào trong nhà thờ và tìm một chỗ cho cô bé tham dự lớp giáo lý chủ nhật của nhà thờ. 
Hai năm sau, cô gái nhỏ đó chết trong căn nhà nghèo nàn của gia đình sau thời gian ốm bệnh. Bố mẹ em đã nhờ vị mục sư tốt bụng người đã làm bạn với con gái nhỏ của họ để làm những thủ tục cuối cùng.
Khi mang xác em đi, người ta tìm thấy một cái ví đỏ nhàu nát, sờn rách mà có vẻ đã được em nhặt về từ một thùng rác nào đó. Bên trong có 57 xu và một mảnh giấy viết nguệch ngoạc nét chữ trẻ con ghi “số tiền này để giúp xây dựng một nhà thờ to hơn chút nữa để có thêm chỗ cho nhiều trẻ em được đến lớp giáo lý chủ nhật”. Trong hai năm, em đã tiết kiệm được từng đó với tình yêu trong sáng.
Khi mục sư đọc những dòng đó, nước mắt ông dàn dụa. Ông đã mang mảnh giấy nhỏ và chiếc ví rách lên bục giảng, ông kể câu chuyện về sự dâng hiến và tình yêu không ích kỷ của cô gái nhỏ.
Ông kêu gọi các thầy sáu hãy làm việc tích cực hơn để kiếm đủ tiền để xây dựng một tòa nhà lớn hơn. Câu chuyện không dừng ở đó… Một tờ báo biết được đã đăng tải câu chuyện. 

Một nhà đầu tư bất động sản đã đọc bài báo và ông đề nghị bán cho nhà thờ một mảnh đất trị giá hàng ngàn dollars. Khi biết nhà thờ không có tiền, ông đề nghị bán với giá 57 xu. Sau đó tặng lại nhà thờ 54 xu, những đồng xu ấy có ghi năm 1886 hiện đang được trưng bày tại Thư viện của trường Đại học Temple.
Các nhà thiện nguyện và tín hữu khắp nơi tiếp tục gởi tiền về giúp. Trong vòng 5 năm, món quà của cô gái nhỏ đã tăng lên tới 250,000 usd; một khoản tiền khổng lồ vào thời điểm những năm đầu thập niên 1890. Tình yêu không vụ lợi của cô gái nhỏ đã mang lại lợi nhuận khổng lồ.
Khi bạn đến thăm thành phố Philadelphia, hãy đến thăm Nhà thờ Temple Baptist, nơi có thể chứa tới 3300 người. Và cũng đừng quên ghé thăm Đại học Temple, nơi hàng ngàn sinh viên đang được đào tạo; nơi 54 đồng xu của cô gái nhỏ đang được trang trọng trưng bày trong thư viện của trường.

Ngô Tùng Châu sưu tầm

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

BÀI THƠ VỀ " MẸ " CỦA ĐỖ TRUNG QUÂN

Nói đến mùa Vu Lan mà không nhắc đến bài thơ " MẸ " của Nhà thơ Đỗ Trung Quân là một sự thiếu sót.
Bài thơ này đã đi sâu vào lòng người đọc như một mũi tên cắm vào lương tâm của chúng ta.Ta đau đớn thức tỉnh khi chợt nhìn thấy mình trong đó.
MẸ
Con sẽ không đợi một ngày kia…
khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
ai níu nổi thời gian?
ai níu nổi bao giờ?
Con mỗi ngày một lớn lên
Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.
Con sẽ không đợi một ngày kia
có người cài lên áo cho con một nụ bạch hồng
mới thảng thốt nhận ra mình mất mẹ
mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng
hoa đẹp đấy – cớ sao lòng hoảng sợ?
Giọt nước mắt kia bao lâu nữa của mình?

Ta ra đi mười năm xa vòng tay của mẹ
Sống tự do như một cánh chim bằng
Ta làm thơ cho đời và biết bao nhiêu người con gái
Có bao giờ thơ cho mẹ ta không?
Những bài thơ chất ngập cả tâm hồn
đau khổ – chia lìa – buồn vui – hạnh phúc
Có những bàn chân đã giẫm xuống trái tim ta độc ác
mà ta vẫn cứ đêm về thao thức làm thơ
ta quên mất thềm xưa dáng mẹ ngồi chờ
giọt nước mắt già nua không ứa nổi
ta mê mải trên bàn chân rong ruổi
mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng
Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân
mấy kẻ đi qua
mấy người dừng lại?
Sao mẹ già ở cách xa đến vậy
trái tim âu lo đã giục giã đi tìm
ta vẫn vô tình
ta vẫn thản nhiên?

Hôm nay…
anh đã bao lần dừng lại trên phố quen
ngả nón đứng chào xe tang qua phố
ai mất mẹ?
sao lòng anh hoảng sợ
tiếng khóc kia bao lâu nữa
của mình?
Bài thơ này xin thắp một bình minh
trên đời mẹ bao năm rồi tăm tối
bài thơ như nụ bạch hồng
Con cài sẵn cho tháng ngày
…sẽ tới…!

( Thơ Đỗ Trung Quân )




Đừng bỏ Mẹ một mình...


Hình ảnh : Michel Luong

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

CÂU CHUYỆN NHÂN QUẢ TẠI ĐẠI HỌC STANFORD NĂM 1892

Đây là một câu chuyện có thật xảy ra vào năm 1892 tại trường đại học Standford
Một sinh viên 18 tuổi đang cố xoay sở để trả học phí.  Cậu mồ côi và không biết nhờ cậy vào ai để xin tiền. Rồi cậu nghĩ ra một cách thật hay ho. Cậu và một người bạn quyết định tổ chức một buổi hoà nhạc tại trường để gây quỹ kiếm tiền trả học phí cho cả hai.
Họ tìm đến nhà dương cầm nổi tiếng Ignacy J. Paderewski.  Ông bầu của nhạc sĩ yêu cầu phải các cậu phải đảm bảo thanh toán một khoản thù lao là 2.000$ cho buổi độc tấu dương cầm.  Giao kèo được thoả thuận và hai cậu sinh viên bắt tay tổ chức để buổi biểu diễn được thành công.
Ngày trọng đại đó rồi cũng đến.  Paderewski biều diễn tại Standford.  Nhưng không may, hai bạn trẻ không thể xoay sở để bán hết số vé.  Tổng số tiền mà họ thu được chỉ vỏn vẹn 1.600 $.  Thất vọng, họ tìm đến Stanford để giải thích hoàn cảnh của họ.  Hai cậu sinh viên trao hết 1.600 $ cho Paderewski cùng tấm chi phiếu 400 $ cho khoản tiền còn thiếu với lời hứa rằng họ sẽ tranh thủ thanh toán tấm séc này sớm nhất..
Paderewski nói, “Không, việc này không thể chấp nhận được.”  Ông xé tấm chi phiếu, đưa lại 1.600 $ cho hai cậu sinh viên và nói: “Đây là 1.600 $. Hãy thanh toán mọi chi phí mà các bạn còn thiếu nợ, giữ số tiền mà các bạn cần để thanh toán học phí,  tôi chỉ lấy phần tiền còn dư.” Hai cậu sinh viên ngạc nhiên và rối rít cám ơn Paderewski.
Nó chỉ là một nghĩa cử nhỏ bé thể hiện một tấm lòng tử tế, nhưng rõ ràng cho thấy rằng Paderewski là một con người có nhân cách lớn.

Tại sao ông ta phải giúp hai thanh niên mà ông chẳng hề quen biết.  Chúng ta ai cũng tình cờ gặp những tình huống như vậy trong đời mình. Và hầu hết chúng ta chỉ nghĩ:  “Nếu giúp họ, chuyện gì sẽ xảy ra cho ta?” Nhưng những con người vĩ đại thì lại nghĩ rằng: “Nếu ta không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra cho họ?”  Họ giúp và không mong có sự đền đáp.  Họ làm điều  đó vì họ cảm thấy rằng đó là một việc  đúng cần phải làm.
Paderewski sau đó trở thành Thủ tướng của Ba Lan. Ông là một nhà lãnh đạo tài ba nhưng không may,  chiến tranh Thế giới xảy ra, Ba Lan bị tàn phá.  Hơn 1,5 triệu người dân trong nước lâm vào cảnh đói và không có tiền để cung cấp cái ăn cho họ.  Paderewski không biết cầu cứu ở đâu,  ông quyết định tìm đến Tổ chức  Cứu trợ Lương thực Hoa Kỳ để xin giúp đỡ. Lãnh đạo của tổ chức này  lúc bấy giờ là Herbert Hoover, sau này trở thành Tổng thống Hoa Kỳ. Hoover đồng ý giúp và nhanh chóng gửi hàng tấn ngủ cốc để cứu đói cho người dân Ba Lan.


Tổng Thống Hoa Kỳ HERBERT HOOVER
Thảm họa được đẩy lùi. Thủ Tướng Paderewski cảm thấy nhẹ nhõm. Ông  quyết định sang Mỹ gặp Hoover để đích thân cảm ơn. Khi Paderewski bắt đầu nói lời cảm ơn  Hoover vì nghĩa cử cao thượng của ông, thì Hoover vội cắt ngang và nói: “Ngài không cần phải cảm ơn tôi, thưa  Thủ Tướng. Có lẽ ngài không còn nhớ câu chuyện này, nhưng vài năm trước, ngài đã giúp  hai cậu sinh viên trẻ tuổi tiếp tục học đại học tại Hoa Kỳ, và tôi là một trong hai  sinh viên ấy.”
THẾ GIỚI NÀY ĐÚNG THẬT LÀ TUYỆT VỜI, KHI BẠN CHO ĐI THỨ GÌ, BẠN SẼ NHẬN LẠI ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU TƯƠNG TỰ. 
( Internet )

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

AVE MARIA ( Franz Peter Schubert )

Ave Maria, gratia plena,
Maria, gratia plena,
Maria, gratia plena,
Ave, Ave, Dominus,
Dominus tecum.
Benedicta tu in mulieribus, et benedictus,
Et benedictus fructus ventris
Ventris tui, Jesus.
Ave Maria!
Tạm dịch nghĩa tiếng Việt:
Kính chào Mẹ Maria
Đầy ơn phúc,
Mẹ Maria đầy ơn phúc,
Mẹ Maria đầy ơn phúc,
Kính chào chúa tể của các chúa tể
Chúa đem may mắn cho Người trong số các phụ nữ
Và may mắn là thành quả trong bụng (dạ con) của Người
Đó là Chúa Giêsu đã sinh ra từ dạ con của Người.
Kính chào, Mẹ Maria
"Ave Maria" hay  "Ellens dritter Gesang" (Ellens Gesang III, D 839, Op 52 no 6, 1825), với phần lời dựa trên trích đoạn "The lady of the lake" của Sir Walter Scott, là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà soạn nhạc vĩ đại người Áo Franz Schubert. "Ellens dritter Gesang" có nghĩa là "Bài ca thứ ba của nàng Ellens". Tuy rằng có rất nhiều tranh cãi và hiểu lầm về nguồn gốc của tác phẩm, nhưng thực sự đây là một tác phẩm cực kì xuất sắc của Franz Schubert, một trong những tác phẩm đưa ông lên vị trí một trong những nhà soạn nhạc hàng đầu thế giới.
Franz Peter Schubert
Vào những năm 1825, Schubert có một chuyến đi về vùng quê cùng Vogl, một người bạn của mình. Cũng trong thời gian này, Schubert đã làm quen với thơ của một nhà thơ người Scotland là Walter Scott thông qua những bản dịch tiếng Đức (của Adam Storck). Schubert nghĩ rằng nếu ông soạn nhạc cho những bài thơ này thì ông có thể sẽ được biết đến nhiều hơn ở những cộng đồng ngoài nước Áo. Trong số những tác phẩm ông sáng tác khoảng thời gian đó có "Ave Maria". Mặc dù là một tác phẩm được biểu diễn khắp nơi trên thế giới nhưng phần lời ca ngày nay của "Ave Maria" không phải là bản dịch mà nhà soạn nhạc đã dùng lúc ban đầu.
Thiên anh hùng ca "The Lady of the Lake" của Walter Scott được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1810. Tác phẩm có 3 phần chính: Cuộc thi tài của ba người đàn ông là Roderick Dhu, James Fitz-James và Malcolm Graeme để giành tình yêu của người đẹp Ellen Douglas; Mối hận thù và sự hòa giải giữa Vua James V của Scotland và James Douglas; Cuộc chiến tranh giữa vùng đồng bằng Scotland (do James V lãnh đạo) và vùng cao nguyên Scotland (do Roderick Dhu xứ Clan Alpine lãnh đạo). Câu chuyện tập trung sâu vào khoảng thời gian thế kỉ 19 và đã ảnh hưởng khá nhiều tới phong trào "Phục hồi cao nguyên" (Hightland Revival). Tới đầu thế kỉ 20 thì nó hầu như bị quên lãng.
"Ave Maria" được trình diễn lần đầu tiên tại lâu đài của nữ hầu tước Sophie Weissenwolff  tại ngôi làng nhỏ Steyregg ở Áo như là một món quà dành tặng cô, để rồi sau này, như một hệ quả, cô được biết đến như là "The lady of the lake".
Tác phẩm của Schubert thường được gọi bằng cái tên "Ave Maria" (thay vì "Bài ca thứ ba của nàng Ellens" như trong nguyên bản) là bởi vì nó là một đoạn trong tác phẩm của Walter Scott khi mà Ellen đang lẩn trốn và cầu xin Đức Mẹ và đoạn cầu nguyện này bắt đầu bằng " Ave Maria".
Hymn to the Virgin
Thơ: Sir Walter Scott
Ave Maria! maiden mild!
Listen to a maiden's prayer!
Thou canst hear though from the wild,
Thou canst save amid despair.
Safe may we sleep beneath thy care,
Though banish'd, outcast and reviled -
Maiden! hear a maiden's prayer;
Mother, hear a suppliant child!
Ave Maria!
Ave Maria! undefiled!
The flinty couch we now must share
Shall seem this down of eider piled,
If thy protection hover there.
The murky cavern's heavy air
Shall breathe of balm if thou hast smiled;
Then, Maiden! hear a maiden's prayer;
Mother, list a suppliant child!
Ave Maria!
Ave Maria! stainless styled!
Foul demons of the earth and air,
From this their wonted haunt exiled,
Shall flee before thy presence fair.
We bow us to our lot of care,
Beneath thy guidance reconciled;
Hear for a maid a maiden's prayer,
And for a father hear a child!
Ellens dritter Gesang
(bản dịch tiếng Đức của Storck mà Schubert sử dụng)
Ave Maria! Jungfrau mild,
Erhöre einer Jungfrau Flehen,
Aus diesem Felsen starr und wild
Soll mein Gebet zu dir hinwehen.
Wir schlafen sicher bis zum Morgen,
Ob Menschen noch so grausam sind.
O Jungfrau, sieh der Jungfrau Sorgen,
O Mutter, hör ein bittend Kind!
Ave Maria!
Ave Maria! Unbefleckt!
Wenn wir auf diesen Fels hinsinken
Zum Schlaf, und uns dein Schutz bedeckt
Wird weich der harte Fels uns dünken.
Du lächelst, Rosendüfte wehen
In dieser dumpfen Felsenkluft,
O Mutter, höre Kindes Flehen,
O Jungfrau, eine Jungfrau ruft!
Ave Maria!
Ave Maria! Reine Magd!
Der Erde und der Luft Dämonen,
Von deines Auges Huld verjagt,
Sie können hier nicht bei uns wohnen,
Wir woll'n uns still dem Schicksal beugen,
Da uns dein heil'ger Trost anweht;
Der Jungfrau wolle hold dich neigen,
Dem Kind, das für den Vater fleht.
Ave Maria!

Ngày nay, chúng ta có thể nghe thấy "Ave Maria" ở bất kỳ nơi nào, trong các lễ cưới (nhất là ở Việt Nam) hoặc vào những ngày giáng sinh. Thậm chí Walt Disney đã sử dụng tác phẩm này trong phần kết thúc của Fantasia, một trong số những bộ phim hoạt hình đầu tiên mà họ đã sản xuất. Cả game hành động nổi tiếng Hitman vốn đã quá quen thuộc và nổi tiếng với giới game thủ cũng đã sử dụng "Ave Maria" trong game của mình.
Sau này, các nhà soạn nhạc khác cũng đã có rất nhiều tác phẩm có dùng lại cái tên "Ave Maria" mà một trong những bản nổi tíêng nhất có lẽ là của Gounod khi ông soạn lại trên giai điệu của một tác phẩm trong bộ Bình quân luật của nhà soạn nhạc thiên tài Bach.

Nguồn: nhaccodien.info